FANDOM


Takaki sớm kiếm được việc ở một công ty phần mềm cỡ trung ở Mitaka. Với tư cách là kỹ sư phần mềm anh được chọn vào bộ phận chuyên về mảng phát triển giải pháp phần mềm cho những phương tiện thông tin liên lạc. Khách hàng của bộ phận này đa phần là các công ty viễn thông và sản xuất thiết bị đầu cuối[2]. Nhóm của anh phụ trách phát triển phần mềm cho điện thoại di động.


Điều đầu tiên anh nhận ra khi bắt đầu đi làm là nghề lập trình hóa ra lại hoàn toàn phù hợp với anh. Một cái nghề đơn độc, dù nó đòi hỏi tính kiên nhẫn cùng khả năng tập trung cao nhưng kết quả thì không bao giờ bạc bẽo công sức đã bỏ ra. Khi một chương trình chạy không như ý thì anh có thể chắc chắn đó là sai sót của chính mình trong việc xây dựng các đoạn mã. Tất cả những suy nghĩ của anh đều để dành cho hàng trăm, hàng ngàn đoạn mã và điều đó làm anh thấy dễ chịu.


Công việc bận rộn tới mức hầu như mỗi ngày anh đều nửa đêm mới về đến nhà. Đôi lúc anh có thể được bốn năm ngày nghỉ để đi chơi đâu đó nhưng rốt cuộc vẫn lựa chọn ngồi trước màn hình máy tính hàng giờ đồng hồ như thể chẳng bao giờ là đủ. Trong căn phòng làm việc sạch sẽ và trắng toát, thu mình vào thế giới của các thông số với câu lệnh, ngày qua ngày âm thanh duy nhất Takaki nghe được là tiếng gõ bàn phím.






Takaki không biết là do tính chất công việc hay chỉ công ty anh mới gặp trường hợp này, đó là sự giao tiếp trực tiếp - nói trắng ra là nói bằng miệng - giữa các đồng nghiệp có lẽ là con số không : không tán gẫu, không ăn khuya, không nhậu nhẹt. Thậm chí trong giờ nghỉ nhóm của anh cũng chẳng ai bận tâm rời khỏi ghế ngồi khi mỗi người đều có một hộp cơm mua sẵn từ cửa hàng tiện lợi, rồi cứ thế tan sở thì mạnh ai nấy về chẳng cần chào hỏi gì sất. Số lượng những cuộc họp luôn được giữ ở mức tối thiểu nhất có thể, nếu không thì chỉ có e-mail là nơi thông báo.


Một tầng lầu với những phòng làm việc rộng lớn không khi nào ngớt tiếng gõ phím, thực sự đơn điệu đến mức mặc dù có cả trăm người đang làm việc ở đây thì cảm giác về sự tồn tại của con người gần như là không có.






Anh nhớ những đêm hàn huyên và say xỉn chẳng vì lí do gì hồi đại học nhưng rồi cũng bắt mình thích nghi với môi trường mới. Vả lại anh biết mình có phải là người hòa đồng đâu?


Kết thúc một ngày anh sẽ ngồi chuyến xe cuối cùng cùa tuyến trung tâm, đến nhà ga Shinjuku rồi về căn hộ ở Nakanosakaue sau ba mươi phút đi bộ, hôm nào quá mệt anh sẽ bắt taxi. Giá thuê căn hộ ở Mitaka rẻ hơn nhưng anh không thích sống gần công ty lắm. Hơn hết ở đây anh vẫn có thể nhìn thấy nhà ga Ikebukuro cùng những tòa cao ốc nhỏ xíu lấp lánh phía tây khu Shinjuku…


Khoảng thời gian ưa thích của anh là lúc chuyến xe đi ngang qua Ogikubo, nơi anh có thể nhìn ngắm những toà nhà gần và to hơn bất kì nơi đâu anh ở. Toa xe vắng tanh chỉ còn một người khách đang cuộn mình trong tấm áo khoác dày, đầu nặng trĩu áp lực từ một ngày bận rộn nhưng một cách nào đó lại thấy thoải mãn đến lạ. Cảnh vật vào thời gian này có sự hòa điệu giữa ánh sáng và âm thanh theo chu kỳ của xe chạy. Có lẽ hiếm nơi nào mà ban đêm lại có nhiều ánh sáng như ở Tokyo. Dưới mỗi ánh đèn vàng là bao nhiêu người còn làm việc khuya, chuỗi đèn đỏ trên thân chiếc máy bay sắp cất cánh nhấp nháy chậm rãi cứ như chúng có hơi thở…


Bao giờ Takaki cũng có cảm giác mình đang ngắm cái gì đó đẹp mà lại xa đến mức không thấy được. Tim anh bỗng xao động.




Sáng hôm sau Toono lại đến phòng làm việc với một lon cà phê mua ở căng tin công ty. Một quy trình quen thuộc bắt đầu : quét thẻ nhân viên để báo giờ vào làm, ngồi ghế, bật máy rồi vừa uống cà phê vừa kiểm tra lịch làm việc trong ngày. Màn hình vừa sáng cũng là lúc con trỏ di chuyển đến các biểu tượng mà mở ra một loạt cửa sổ cần thiết. Đôi tay sẽ thoăn thoắt trên bàn phím khi anh nghĩ ra vài giải thuật khả thi và bắt đầu cho chạy thử mấy cái giao diện lập trình ứng dụng (API)[3]. Lo xong cái API thì anh bắt đầu lập trình giao diện cho hệ điều hành, kiểm tra các phần mềm hỗ trợ khác và cuối cùng là mảng phần cứng phức tạp đến kinh dị.


Khả năng và niềm đam mê công nghệ của anh ngày càng nâng cao khiến anh khâm phục những gì mà một chiếc máy tính có thể làm được. Từng ngày từng ngày làm việc anh không thể không cảm thấy háo hức khi thấy mình hiểu nhiều về một công cụ quá ư là tuyệt với này. Cái gì lưu lại những phép đo thực tế chứng minh Thuyết tương đối[4] là đúng? Máy tính. Cái gì có thể xem xét các vấn đề vật lý lượng tử[5] dưới kích cỡ nano[6]? Máy tính. Cái gì mà nhờ nó lý thuyết siêu dây[7] đã được sinh ra và thống nhất tất cả? Lại là máy tính. Thứ máy móc anh ngồi đối diện hàng ngày là chiếc chìa khoá giúp con người mở ra bí mật của thế giới. Với Takaki bí mật đó có thể đưa anh về với những giấc mơ, những cảm giác anh đã mất từ lâu; vùng đất anh yêu mến, bài hát anh thích nghe vang lên sau giờ học và cả lời hứa với một cô gái anh không thực hiện nổi. Tất nhiên không có gì chứng minh là máy tính làm được điều đó nhưng trong lòng anh lại nhen nhóm một ý nghĩ kì quặc như vậy.




Anh tiếp tục đánh máy như người nhạc sĩ cô độc, đang phiêu trong bản nhạc cuộc đời bên chiếc dương cầm bầu bạn.






Cứ như thế mà bao nhiêu năm kể từ khi anh bước vào đời đã trôi qua trong một cái chớp mắt. Cậu bé Takaki yếu ớt dễ bệnh ngày nào giờ đã cao lớn, trưởng thành và là một lập trình viên đầy tài giỏi. Sự tín nhiệm của cấp trên cùng lương bổng chỉ biết tăng dần đều. Cứ ba tháng anh lại thưởng mình một bộ đồ mới. Vào ngày nghỉ anh tranh thủ dọn nhà cho thật sạch rồi đọc sách, hay lâu lâu lại rủ mấy người bạn cũ đi uống bia. Nhóm bạn của anh vẫn đầy đủ như xưa.




Tám giờ sáng cho đến một giờ khuya. Vòng xoay cuộc sống cứ thế mà tiếp tục.




Có một điều anh luôn băn khoăn là thứ cảm giác kì lạ mỗi khi nhìn ngắm toà cao ốc phía tây Shinjuku lấp lánh trong buổi bình minh. Rốt cuộc nó là cái gì nhỉ?




“Toono-san[8]!”




Lâu rồi không ai gọi như vậy. Một sáng chủ nhật mưa lớn, anh đang ở nhà ga Shinjuku thì nghe tiếng gọi từ một cô gái trông khá trẻ. Cô đeo kính và đang cầm một chiếc ô màu nâu xám. Ban đầu anh không nhận ra mặc dù có cảm giác chắc chắn là đã gặp cô ở đâu đó, rồi chỉ nhớ ra khi cô tiếp lời :


“… em bên nhóm bảo trì hệ thống này.”


“A! … bộ phận của chú Yoshimura phải không?”


“Em là Mizuno. Vậy là anh vẫn còn nhớ nhỉ?”


“Xin lỗi, lần đầu gặp em mặc vét … nên trông khác quá.”


“Ồ, và kì này có thêm cái mũ nữa đúng không? Còn em thì nhận ra anh ngay, anh diện đồ chỉnh chu như học sinh ấy!”


Giống học sinh thật sao? Chắc cô ấy đùa vì bộ dạng cô bây giờ trông còn học sinh hơn cả anh. Đi xăn-đan này, móng tay sơn màu hồng lợt và thêm một lớp sơn bóng này. Nãy cô vừa nói tên là… à Mizuno. Lần đầu tiên anh gặp cô là khi anh phải giao một số báo cáo cuối tháng cho đối tác và Mizuno ngẫu nhiên là người nhận. Họ có trao đổi card visit nhưng dĩ nhiên chỉ mang tính hình thức chứ không hề có ý định gặp lại, dù tác phong nghiêm túc và chất giọng trong trẻo của cô đã làm anh ấn tượng.


Đi cạnh cô anh cũng vừa nhớ ra tên đầy đủ của cô là Risa Mizuno, và cái cách anh để ý về phông chữ của tấm card visit khớp với tính cách chủ nhân nó thế nào. Cùng nhau họ đi xuống cầu thang rổi quẹo phải.


“Mizuno - san cũng về bằng cửa Đông luôn à?”


“Ưm… không hẳn.”


“Không hẳn là sao?”


“À, ý em là bây giờ em cũng khá rỗi, với lại mưa cũng vừa tạnh nên em nghĩ mình muốn đi mua sắm hay làm gì đó thay vì về nhà ấy mà,” cô cười nói. Anh liền đáp:


“Vô tình anh cũng chẳng có gì để làm, vậy em có muốn đi uống cà phê với anh không?”


Mizuno mỉm cười, có hơi ngạc nhiên một chút nhưng cô đồng ý. Vậy là trưa hôm đó họ tìm thấy một quán cà phê nhỏ ngay cạnh cửa Đông của nhà ga mà ngồi trò chuyện suốt hai tiếng đồng hồ, trao đổi số điện thoại rồi chào nhau tạm biệt.


Khi  ghé vào hiệu sách trên đường về nhà Takaki cảm thấy cổ họng hơi tê và mệt mỏi. Đã quá lâu rồi anh được tỉnh táo mà nói chuyện vô tư đến thế. Mặc dù chỉ mới gặp Mizuno lần này là thứ hai nhưng anh thấy hai tiếng nói chuyện dường như vẫn chưa đủ đã. Có lẽ cũng nhờ nhóm của anh vừa làm xong một dự án lớn nên trong người cực kỳ nhẹ nhõm. Anh và cô đã nói về công ty, về hàng xóm và cả chuyện hồi học sinh nữa. Chẳng có nội dung gì trong cuộc trò chuyện đó là nghiêm túc cả. Sự hồn nhiên và óc hài hước của cô lại càng làm anh thấy thoải mái. Một cảm giác ấm áp ngỡ như đã mất từ lâu lắm rồi đang sống lại trong anh.


Một tuần sau anh gửi cho cô một e-mail mời đi ăn tối. Hôm đó anh ra sức hoàn thành công việc thật nhanh, gặp cô ở nhà hàng Kichijouji và hàn huyên đến mười giờ thì về. Ngay tuần sau đó đến lượt cô mời anh bữa tối, và tuần sau nữa là ngày nghỉ lễ, họ cùng nhau đi xem phim, và cứ thế…


Rất tự nhiên và nhẹ nhàng, anh và cô cùng xích lại gần nhau.






Mizuno thuộc tuýp phụ nữ khiến người ta thấy dễ chịu khi tiếp xúc. Mái tóc dày cùng cặp kính khá to làm cô ấy trông bình thường nếu nhìn lướt qua, nhưng khuôn mặt xinh xắn núp đằng sau có thể làm lỡ nhịp tim của cả trăm đấng mày râu chứ chẳng chơi. Cô thường ăn mặc kín đáo cứ như là sợ người ta thấy mình đẹp vậy. Mizuno nhỏ hơn anh hai tuổi, chân chất và rất thật thà. Hầu như chuyện gì cô cũng chia sẻ với anh với giọng điệu chậm rãi từ tốn. Chưa bao giờ cô nói chuyện to tiếng.


Bên cạnh cô anh đang có được quãng thời gian yên bình nhất kể từ khi chuyển đến sống ở Tokyo này.


Căn hộ của Mizuno nằm ở quận Nishikokubuji nên để tới công ty thì cũng phải đi tuyến trung tâm, thế là chỉ cần muốn họ có thể gặp nhau ở một trạm nào đó trên tuyến đường ấy. Anh cảm nhận được tình cảm của cô dành cho anh khi hai bờ vai tựa vào nhau trên những toa xe chật kín, khi hai hộp cơm được san sẻ và những buổi tối đi dạo cùng nhau…


Một điều chắc chắn nếu một bên chủ động tỏ tình thì bên kia sẽ đồng ý ngay, nhưng anh lại băn khoăn không biết thổ lộ vào thời điểm này là nên hay không?






Takaki nhìn cô đi về hướng nhà ga Kikujouji. Anh đã từng quá nóng vội mỗi khi thích một ai đó, để rồi lại làm họ chán nản mà ra đi.


Anh không cho phép sai lầm đó lặp lại lần nào nữa.






Năm nay có một sự kiện rất được chờ đợi : chiếc tên lửa mang tên H2A đã được phóng lên vũ trụ thành công.


Takaki đang nằm trong phòng theo dõi sự kiện trên qua bản tin vô tuyến phát trực tiếp. Một đêm mưa tầm tã là kết quả của một ngày quá ư nóng ẩm. Mọi cửa sổ đều được đóng kín vì máy điều hòa đang bật, nhưng cũng không ngăn được thứ âm thanh hỗn loạn của mưa dội vào cửa kính cùng những chiếc xe lao xẹt qua con đường sũng nước. Trên màn hình xuất hiện hình ảnh đến từ Trung tâm vũ trụ Tanegashima. Chiếc tên lửa H2A đang phóng lên với những cột lửa khổng lồ phụt ra từ đuôi. Góc quay chuyển sang hướng khác cho phép người xem nhìn thấy thân hình vĩ đại của tên lửa từ từ xuyên thủng tầng mây đầu tiên. Góc quay lại chuyển tới một chiếc camera được gắn trên chính tên lửa. Có thể thấy toàn bộ hòn đảo Tanegashima giật lùi và thu nhỏ với tốc độ đáng ngạc nhiên.


Hình ảnh ngôi trường cao trung nằm sát bờ biển hình như cũng lướt qua trong nháy mắt.




Anh khẽ rùng mình.




Takaki không biết anh nên có cảm giác gì khi thấy những hình ảnh như vậy. Tanegashima đã không còn là nhà vì ba mẹ anh đã chuyển đến Nagano và có thể sẽ sống luôn ở đó. Tanegashima chỉ còn là hoài niệm về một nơi gia đình anh từng sống.


Anh uống một ngụm bia, thứ chất lỏng vàng óng khiến cổ họng anh cay xè mà nhỏ từng giọt nhiệt ấm nồng xuống bao tử. Cô phóng viên tiếp tục giới thiệu chiếc vệ tinh mà tên lửa có nhiệm vụ mang lên vũ trụ là loại vệ tinh địa tĩnh…




Tanegashima trong lòng anh thật sự chỉ có thế thôi sao?






Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất Takaki được trực tiếp ngắm tên lửa phóng lên từ đảo là lúc anh mười bảy tuổi, cùng một người con gái. Dù không học cùng lớp nhưng anh và cô lại khá thân với nhau. Nói đúng hơn… là cô ấy chủ động kết thân với anh trước.




Cô bé dễ thương có làn da rám nắng và thích lướt sóng ấy tên là Kanae Sumida.




Nỗi đau về khoảng thời gian bên Kanae lại bắt đầu day dứt trong lòng Takaki dù lần cuối anh gặp cô đã gần mười năm trước. Tấm lưng nhỏ nhắn hay ướt đẫm mồ hôi. Giọng nói, nụ cười của của cô bé Kanade mười bảy tuổi tràn đầy trong tâm trí anh. Anh cảm thấy hối hận lắm nhưng vẫn nghĩ quyết định hồi đó là đúng đắn. Không có cách nào khác. Làm sao mà anh không nhận ra cô ấy đã thích anh như thế nào, đã cố thổ lộ với anh như thế nào? Làm sao mà anh không nhận ra mình đã cản cô ấy vào ngay thời điểm đó như thế nào, và nhìn một Kanae sau khi đã từ bỏ như thế nào chứ?


Anh biết hết và nhớ hết như tất cả chỉ là ngày hôm qua, nhưng thật sự anh không thể làm gì cả.




Người duy nhất được biết ngày anh ra sân bay để vào Tokyo học đại học chính là Kanae. Một ngày tháng ba đầy nắng và gió, ở bãi đậu xe trong sân bay họ trao cho nhau những lời cuối cùng. Từ đầu đến cuối cuộc nói chuyện cô ấy không thể ngừng khóc, nhưng ngay trước lúc chia tay cô đã cố gắng mỉm cười. Lúc đó anh cảm thấy cô gái trước mặt mình thật mạnh mẽ và chững chạc, mạnh mẽ hơn cả anh…




Mình có dành được một nụ cười cho Sumida hay không? Anh chẳng còn nhớ được nữa.






Đã hai mươi phút quá nửa đêm.


Anh cần phải ngủ để ngày mai đi làm. Bản tin đã kết thúc và bây giờ trên màn hình là chương trình quảng cáo. Takaki tắt TV rồi đi đánh răng. Anh chỉnh thời gian tự động tắt của máy điều hòa là một tiếng nữa, tắt đèn và leo lên giường ngủ. Ánh sáng từ chiếc di động báo hiệu có một tin nhắn mới. Anh bật lên màn hình sáng loá và để quầng sáng lờ mờ của nó lan ra khắp phòng.


Đó là lời mời ăn tối của Mizuno.  Anh xoay người sang một bên rồi nhắm mắt lại.




Mọi hình khối và kiểu mẫu xuất hiện trước mặt anh một cách kì diệu. Một người đã từng cho anh biết sự kết hợp giữa mi mắt và con ngươi có thể điều chỉnh được ánh sáng đến võng mạc khiến người ta cảm nhận được ánh sáng ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng cũng vì thế mà con người không bao giờ nhìn thấy bóng tối thật sự. Anh không nhớ người đó là ai.




Takaki nhớ lại khoảng thời gian anh có thói quen nhắn tin mà không gửi. Những tin nhắn ấy là dành cho một cô gái đặc biệt nhưng anh không biết số của cô. Họ đã mất liên lạc trước cả khi họ nhận ra điều đó. Dù vậy anh vẫn cứ tiếp tục, cố gắng truyền tải tất cả những yêu thương của anh dành cho cô qua từng dòng tin nhắn, để rồi khi viết xong lại xóa hết tất cả. Thói quen ấy như là một sự chuẩn bị vậy, chuẩn bị cho một hành trình đơn độc tiến ra một thế giới rộng lớn.




Dần dà đích đến của các tin nhắn thậm chí còn không phải là một người cụ thể mà trở thành cuộc độc thoại, và thế là anh cũng bỏ. Đó là lúc anh biết mình đã sẵn sàng cho cuộc hành trình đó.




Anh sẽ không gửi một bức thư nào cho “cô ấy”.




Và anh cùng sẽ chẳng nhận được bức thư nào từ “cô ấy” nữa. Nghĩ đến thôi cũng làm anh đau khổ và phẫn nộ vô cùng. Anh không ngờ những cảm xúc ấy vẫn nằm trong tâm trí, có nghĩa là mười năm trôi qua chẳng khiến anh thay đổi được gì. Anh vẫn là một thằng bé ngu ngốc, lạnh lùng và tàn nhẫn của ngày xưa. Hai mắt vẫn nhắm sát. Không… ít nhất thì từ giờ anh đã biết ai là người quan trọng đối với mình.




Anh yêu Mizuno!




Lần hẹn sau anh sẽ thổ lộ điều đó. Với quyết định trên anh lập tức hồi âm đồng ý. Anh sẽ đối diện với cảm xúc thật của mình, giống như những gì Sumida đã làm vào cái ngày chia tay ấy…






Sân bay.


Mái tóc, vạt áo của Sumida hòa trong một vũ điệu mãnh liệt của gió biển và cỏ xanh, hòa trong những giọt nước mắt và một nụ cười.





“Em sẽ mãi yêu Toono-kun. Cám ơn anh vì tất cả!”

Ad blocker interference detected!


Wikia is a free-to-use site that makes money from advertising. We have a modified experience for viewers using ad blockers

Wikia is not accessible if you’ve made further modifications. Remove the custom ad blocker rule(s) and the page will load as expected.