FANDOM


Có mưa vào ngày tôi và Akari gặp mặt. Bầu trời như thể bị đậy một cái nắp nồi xám xịt, rồi từ trên cái nắp ấy là vô số hạt mưa rơi lã chã thi nhau lấp đầy mặt đất một lớp nước mỏng. Buổi sáng thật lạnh lẽo, chắc là thần mùa Xuân lười biếng đang đánh một giấc mà để cho kẻ tiền nhiệm mùa đông một ngày làm việc ngoài giờ. Tôi khoác lên chiếc áo len hai lớp màu nâu dày cui, nhét bức thư cho Akari vào cặp rồi vội vàng chạy đến trường. Định bụng hôm nay sẽ về trễ nên chắc ăn tôi đã để lại một tờ giấy thông báo ở nhà. Ba mẹ tôi không biết chuyện hai đứa, thú thật tôi cũng ngờ rằng chưa chắc mình có cơ hội ra khỏi nhà nếu cố giải thích với họ về kế hoạch hò hẹn của chúng tôi.


Sáng hôm đó lòng tôi cực kì rạo rực. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ suốt giờ học bởi chẳng có tâm trí đâu mà nghe giảng với làm bài vào ngày học cuối cùng cả. Đâm ra tôi lại nghĩ về Akari. Một Akari mặc-đồng-phục-cao-trung trông như thế nào? Hai đứa sẽ kể cho nhau nghe những gì? Và hơn hết thảy, tôi tưởng tượng mình sẽ lại được nghe giọng nói dễ thương của Akari. Đúng thế, tôi yêu giọng nói của cô ấy trước cà khi nhận ra điều đó. Mỗi lúc Akari cất tiếng, những âm thanh êm dịu và chứa chan đầy sự tử tế được gửi vào không trung như có một thứ pháp lực diệu kì nào đó luôn làm tai tôi ấm áp, còn cơ thể thì nóng bừng như đang ngồi trên một cái lò sưởi.


Trời vẫn còn mưa, một cơn gió lạnh chợt thổi qua và để lại chút gì đó bất an trong niềm háo hức của tôi.


Sớm thôi! Akari sẽ lại cùng tôi trò chuyện.


Năm centimet một giây. Tôi cứ thế ngắm nhìn bầu trời ngoài cửa sổ hàng giờ đồng hồ, xa xa có vài ánh đèn thấp thoáng chớp tắt ở mấy khu chung cư. Chuông reo báo hiệu tiết học cuối cùng kết thúc cũng là lúc những giọt mưa bắt đầu to lên, rồi hóa thành những hạt tuyết trắng.


Khi đã chắc rằng không còn ai khác trong lớp, tôi rút trong cặp lá thư và một tờ giấy ghi chú đã chuẩn bị từ trước. Hơi chút lưỡng lự nhưng tôi vẫn nhanh chóng bỏ gọn vào trong túi áo. Tôi rất muốn đưa lá thư cho Akari nên nó phải được để vào vị trí mà lúc nào cũng có thể chạm vào được. Còn về tờ ghi chú, đó là danh sách những chuyến tàu có ghi cả thời gian đến và đi mà tôi sẽ lên. Mặc dù đã quay đi quay lại hàng chục lần tờ giấy nhỏ xíu ấy nhưng có gì đó vẫn thôi thúc tôi phải đọc lại thêm lần nữa.


Theo dự định, hành trình sẽ bắt đầu với ba chuyến tàu mỗi chuyến bốn mươi lăm phút từ nhà ga Goutokuji, đi trên tuyến Oda để đến nhà ga Shinjuku. Sau đó tôi sẽ chuyển sang tuyến Saikyou để đến nhà ga Oomiya, tiếp tục chuyển qua tuyến Utsunomiya đến nhà ga Koyama. Cuối cùng tôi sẽ đi trên tuyến Ryouke và đến nhà ga Iwafune vào lúc sáu giờ bốn mươi lăm phút tối. Chúng tôi hẹn nhau lúc bảy giờ nên thế là vừa kịp. Đây là lần đầu tôi tự một mình đi xa và tôi luôn tự nhủ rằng sẽ không có bất trắc nào xảy ra…


Đúng. Mọi chuyện sẽ thuận buồm xuôi gió!


Tôi đi xuống mấy bậc cầu thang được chiếu sáng lờ mờ để ra tiền sánh của trường. Không còn tiếng cười nói của học sinh nên cánh cửa sắt đóng lại vang to đến rợn người. Tôi nhanh chóng thay giày, để lại cây dù trong giỏ đựng rồi đi ra ngoài. Trời không còn mưa nhưng trắng xóa tuyết. May là không phải đi với đôi giày ướt lần nữa. Tôi ngước lên bầu trời để cảm nhận hàng vạn bông tuyết bao phủ lấy thân thể mình, rồi nhanh chóng tôi đội cái hoodie lên và chạy đến nhà ga.






Tôi từng nghĩ đây là lần đầu tiên mình đến nhà ga Shinjuku. Nhưng giờ nhớ lại hóa ra tôi đã tới một lần, là đi xem phim với một người bạn. Hồi đó thì là đi từ Oda đến đây và tôi nhớ hai thằng đã bị lạc ở khu soát vé gần cửa ra Đông JR[5]. Sự phức tạp và lộn xộn của Shinjuku để lại cho tôi nhiều ấn tượng hơn là bộ phim đi xem hôm đó.


Vừa ra khỏi khu soát vé tuyến Oda, tôi dừng lại trước một tấm bản đồ hướng dẫn lớn dán trên tường. Để chắc chắn không bị lạc tôi nhìn kĩ bản đồ một lúc rồi bước nhanh đến nơi có biển báo “Khu bán vé JR”. Đối diện mấy cây cột chỉ dẫn là một dãy các máy bán vé tự động và tôi vội bước đến cái máy có ít người chờ nhất. Ngực tôi nhói đau khi mùi nước hoa nồng nặc toát ra từ một cô gái ăn mặc như nhân viên công sở bất ngờ xộc thẳng vào mũi. Hàng người bên cạnh vừa nhích vài bước lên trước. Lần này bên cạnh tôi là một ông cụ mặc áo khoác sặc mùi long não.


Quá nhiều âm thanh trong nhà ga, chúng hòa quyện và vang dội về mọi hướng tạo nên một hợp âm đầy hỗn loạn và ồn ã. Mũi giày dính đầy tuyết của tôi bắt đầu thấy lạnh, còn đầu thì cứ ong ong lên. Đã đến lượt của mình, tôi ngơ ngác nhận ra cái máy này chẳng có cái nút nào cả (hồi đó hầu hết máy bán hàng tự động đều có nút bấm). Tôi bèn liếc sang người bên cạnh và biết rằng có thể chạm tay trực tiếp vào màn hình để mua vé.


Đã có vé, tôi bắt đầu len lỏi vào đám đông, mắt chăm chú hướng về dãy biển chỉ dẫn để tìm đường đến chuyến tàu đi tuyến Saikyou. “Tuyến ngoại[6] Yamanote”, “Đi Sobu, từ Nagano”, “Tuyến nội[7] Yamanote”, “Đi sobu, từ Chiba”, “Tuyến nội thành tốc hành”, “Tuyến nội thành tốc hành chính”… Tôi đi qua cả đống trạm trước khi dừng lại ở một tấm bản đồ nữa, lớn hơn lúc nãy. Trên đó liệt kê rất chi tiết từng tuyến tàu đi và đến nhà ga. Tuyến Saikyou nắm sát trong góc. Tôi rút ra tờ ghi chú và nhìn đồng hồ (một chiếc hiệu G-Shock đen là quà mừng tôi vào sơ trung của ba mẹ). Các chuyến xe tại Shinjuku sẽ khởi hành lúc bốn giờ hai mươi sáu phút, và đồng hồ đang chỉ bốn giờ mười lăm phút. Thế là ổn, tôi còn mười phút và tất cả đang theo đúng dự tính.


Trước khi lên xe tôi có vào WC một chút, chuyến đi sẽ khá dài nên tôi nghĩ cứ “giải quyết” sớm cho tiện. Vừa rửa tay tôi vừa nhìn vào gương. Cái gương cáu bẩn được chiếu sáng lờ mờ từ một bóng đèn phủ đầy bụi hiện lên hình ảnh của một cậu bé. Cậu bé trong gương cao lớn hơn và trưởng thành hơn nhiều so với sáu tháng trước. Không hiểu vì trời lạnh hay vì suy nghĩ sắp được gặp lại một người bạn thân thiết mà môi cậu bé đỏ ửng lên, và cậu thấy ngượng về điều đó.


Không thể kiếm nổi cái ghế trống nào vì tàu đã chật kín, tôi đành dựa lưng vào thành ở sát phía cuối toa như nhiều người khác. Tôi bắt đầu mất bình tĩnh, hai mắt không thể tập trung nhìn vào một chỗ như khi đọc sách mà cứ láo liên hết nhìn lên mấy tờ áp phích quảng cáo lại nhìn vào những người xung quanh. Tôi chú ý hai cô học sinh đang nói chuyện với nhau, họ đều mặc váy ngắn để lộ cặp đùi trắng trẻo cùng đôi tất màu hồng phấn.


“Cậu thấy tên đó thế nào?”


“Ai cơ?”


“Biết rồi còn hỏi, cái ông học trường cao trung Kita ấy!”


“Ổng hả? Cậu có bình thường không đấy?”


“Rất bình thường, ổng hợp với mình lắm!”


Có lẽ họ đang nói về một anh chàng mới quen nào đó, dù biết chắc hai cô gái kia không nói đến mình nhưng tôi tự dưng lại đỏ mặt. Tôi bèn quay đi chỗ khác, sờ túi áo để chắc rằng lá thư vẫn nằm ở đó. Tôi kiếm được một chỗ có cửa sổ và nhìn ra ngoài. Tàu đã đi được một quãng trên một cây cầu khá cao, nó bắt đầu lắc lư và gây ra những tiếng rầm rập làm tôi khó chịu. Ánh mặt trời sắp lặn đang nhuộm mấy dãy núi đằng xa cùng với một dãy cao ốc san sát nhau những đường viền màu cam lợt. Tuyết vẫn tiếp tục rơi, không biết bây giờ mà còn ở Saitama thì như thế nào nhỉ? Khác hẳn với vẻ thoáng vãng nơi đây, tôi tưởng tượng về những mái nhà đầy tuyết trông như muốn xích lại gần để ủ ấm cho nhau, và cả thành phố sẽ như một tàn tích lớn bị chôn vùi dưới một nền đất trắng. Chắc là như thế.


Trên đường, tàu tạm dừng ở một trạm tên là Musashi-Urawa để hành khách có nhu cầu có thể chuyển sang tuyến nhanh. “Hành khách đi tuyến nhanh xin vui lòng chuyển qua tuyến đối diện.” Một giọng nói rè rè từ chiếc loa gắn trên trần xe phát ra. Gần nửa số người trong đó có tôi chuyển tàu. Hình như càng về phía tây đường ray lại càng chằng chịt hơn. Những ngôi nhà bắt đầu thưa đi và ngập hơn trong tuyết, vài hạt tuyết ánh lên nhờ những tia nắng còn sót lại của ánh chiều tà xuyên qua những đám mây con con. Nhìn những hạt tuyết vàng óng, những ngôi nhà thưa thớt khiến tôi chợt vỡ lẽ…


Cũng như nhà ga Shinjuku, không hề là lần đầu tôi đi ngang qua đây.


Trước khi vào lớp ba tôi đã cùng gia đình rời Nagano mà chuyển về thủ đô. Hồi mới tới Tokyo tôi đã bị choáng ngợp bởi hình ảnh của chốn đô thị quá đỗi náo nhiệt. Tôi còn nhớ mình suýt bật khóc vì luyến tiếc vùng thôn quê Nagano rộng rãi và bình yên khi thấy mình bị bủa vây tứ phía bởi những tòa nhà cao tầng lấp kín cả bầu trời. Ôi thế mà năm năm ở tokyo cũng trôi qua, tôi đã sống rất hạnh phúc bên cô bạn Akari của mình.


Akari luôn là một sự khích lệ lớn đối với tôi, và tôi thầm mong rằng mình cũng thật ý nghĩa với cô ấy như vậy.


Không lớn bằng Shinjuku, nhà ga Oomiya chỉ có một lối vào. Tôi nhanh chóng chạy xuống cầu thang, vượt qua một đám đông để đến chuyến tàu đi tuyến Utsunomiya. Thứ mùi lờ lợ của tuyết xộc vào từng ngõ ngách nơi đây, vào những đôi giày ướt nhẹp thi nhau chà sát nền gạch men gây ra những tiếng lép nhép khó chịu. Tôi tiếp tục đi và thấy ba bốn hàng dài toàn người là người.


Tuyến Utsunomiya cũng sẽ đầy nghẹt khách!


Tôi không vào hàng mà chỉ đứng chờ bên ngoài, vì dù có xếp cũng chẳng có cơ may được ngồi ghế. Lần đầu tiên trong chuyến đi này, tôi đột nhiên cảm thấy bất an thực sự, không lâu trước khi có một thông báo vang lên:


“Quý khách xin lưu ý, tàu đi tuyến Utsunomiya đến nhà ga Koyama, thị trấn Konomiya sẽ đến trễ tám phút so với lịch trình do tuyết rơi nhiều. Thành thật xin lỗi quý khách vì sự bất tiện này!”


Tôi đã chỉ lo mình bị lạc, bị trễ tàu chứ không lường trước việc chính những tuyến xe cũng có thể bị trễ. Tôi lại rút ra tờ ghi chú và nhìn đồng hồ, theo kế hoạch lẽ ra tôi phải lên xe vào lúc năm giờ bốn phút, vậy mà giờ đã năm giờ mười. Trời không quá lạnh nhưng tôi bắt đầu thấy run. Hai phút trễ còn lại đã trôi qua. Khi tiếng còi khời hành vang lên và những ngọn đèn pha cũng vừa được bật sáng, đứng trong xe tôi vẫn chưa ngừng run.


Tuyến Utsunomiya tạo cho tôi ấn tượng về sự tấp nập hơn hẳn tuyến Oda hay Saikyou, ít ra là vào cái giờ cao điểm này. Chiếc tàu tôi vừa lên trông cũ kĩ hơn hẳn những chiếc khác ở bến, ghế bên trong được sắp xếp theo từng cụm bốn ghế làm thành hai hàng đối diện nhau làm tôi nhớ lại những chuyến xe địa phương chỉ chạy trong nội vi Nagano thường đi hồi trước. Tôi nắm chặt một tay vào thanh vịn, tay còn lại thọc sâu vào túi áo khoác và đứng cùng với nhiều người khác tạo thành một hàng chen giữa hai băng ghế. Thiết bị sưởi ủ ấm cho cả toa, phủ lên lớp kiếng cửa sổ một lớp sương mòng, đôi chỗ có vài giọt nước ngưng tụ chảy rũ xuống. Hành khách trông ai cũng mệt mỏi và chẳng buồn nói chuyện. Hai cặp đèn huỳnh quang gắn trên trần tàu bị gỉ sét gần hết đang cố gắng tạo ra chút ánh sáng cho một bức tranh mà cả người lẫn cảnh đều không có một tí sức sống nào. Tôi hít thở sâu cho mình bớt run, nhìn ra ngoài những ngôi nhà xa xa chạy về phía mình mà cố gắng xua đi cái ý nghĩ rằng mình hoàn toàn lạc quẻ trong cái bức tranh buồn bã ấy.


Mọi căn nhà đã ra khỏi tầm mắt, giờ đây toàn bộ khung cành chỉ là những cánh đồng phủ trắng tuyết nối nhau xa tít tắp. Lẫn trong bóng tối có thể thấy ánh sáng của bóng đèn treo ngoài mấy cái nhà kho nằm trơ trọi giữa đồng mà lắc lư theo gió. Bất chợt một luồng sáng đỏ kì lạ đập vào mắt tôi. Hóa ra là dãy cột an toàn dẫn lên núi. Nhìn chúng làm tôi vui vui liên tưởng đến đến một đội cận vệ cao lớn đang đứng nghiêm hai bên để chào đón vị tướng già của họ.






Đường lên núi mở ra một không gian hoàn toàn xa lạ. Nhưng tôi đã không còn để ý đến cảnh vật xung quanh nữa, vì mọi tâm trí giờ đây chỉ tập trung vào câu hỏi : làm thế nào để kịp giờ? Tôi không có cách nào báo cho Akari biết mình sẽ tới trễ, hồi đó tôi chưa có di động và thậm chí số của cô ấy tôi cũng chẳng biết. Bao suy nghĩ lo âu cứ thi nhau mà xoay mòng mòng trong đầu tôi, mà túa ra hỗn loạn hệt như những hạt tuyết rơi ngày càng dày đã lấp kín ô cửa sổ tự bao giờ.


Cả tiếng đồng hồ vừa trôi qua mà xe vẫn chưa đến được trạm tiếp theo – nhà ga Koyama. Hình như càng rời thành phố thì mỗi trạm xe lại cách nhau xa hơn, và thời gian chờ ở từng trạm cũng lâu hơn, lâu đến khó hiểu. Cứ vài phút thì xe lại dừng và một giọng nói quen thuộc phát ra : “Xin quý khách lưu ý, do sự chậm trễ chung của các chuyến khác buộc lòng xe phải tạm dừng trong vài phút. Chúng tôi thành thật xin lỗi về sự bất tiện này và mong quý khách kiên nhẫn đợi…”


Tôi cầu ước một sức mạnh siêu phàm nào đó có thể giữ chiếc kim phút không cho nó đến vị trí bảy giờ, nhưng trong cái hoàn cảnh mà xe thậm chí còn không nhích nổi đến một centimet nào thì tôi biết rằng lời ước đó hoàn toàn vô dụng. Không gian càng im ắng thì những tiếng “tích tắc, tích tắc” càng nghe rõ mồn một, như dụ dỗ như hối thúc chủ nhân nó “Trễ rồi, bỏ cuộc đi!”. Lớp không khí lạnh đặc quánh như một cái lồng vô hình mà bao quanh làm tôi khó thở, mà co lại theo từng tiếng “tích tắc” tàn nhẫn.


Xe đến một nhà ga nhỏ tên là Nogi khi đồng hồ vừa điểm bảy giờ. Còn hai trạm dừng nữa mới là nhà ga Koyama cùng với ít nhất hai mươi phút – nếu không bị dừng – mới tới được trạm Iwafune, nơi Akari đang đợi. Hai tiếng đồng hồ đã trôi qua kể từ lúc mới rời nhà ga Oomiya, sự mất kiên nhẫn và nản chí lấp đầy tâm trí của tôi. Chưa bao giờ tôi thấy khổ sở như lúc này. Không còn biết lạnh là gì, tôi mơ hồ nhìn ra bầu trời chỉ còn một màu đen buồn bã và chợt rùng mình khi cái bao tử rỗng không bắt đầu cồn cào. Tôi chợt nhận ra là đã có ghế trống, đúng hơn thì tôi là người duy nhất còn đứng trong xe. Tôi ngồi uỵch lên một chiếc ghế, đôi chân đột ngột trở nên cứng đơ và tê rần. Mọi sự mỏi mệt từ nãy giờ dường như đã đổ ào ra từng cơ quan, từng tế bào mà không gì ngăn cản được. Tôi uể oải rút ra lá thư viết cho Akari và nhìn chằm chằm vào nó. Thời điểm chúng tôi hẹn nhau đã trôi qua. Có lẽ Akari đã bắt đầu thấy lo. Nghĩ đến việc mình lại làm Akari buồn khiến tôi nhớ về cuộc điện thoại trước kia …


Tại sao mọi chuyện lại cứ phải như thế?


Xe tiếp tục lăn bánh trở lại sau mười lăm phút dừng ở nhà ga Nogi.






Tôi đến trạm Koyama vào lúc bảy giờ bốn mươi phút. Vừa xuống xe tôi liền chạy như bay đến chuyến xe đi tuyến Ryouke, tay vò nát mảnh giấy ghi chú mà quăng vào thùng rác.


Nhà ga Koyama trông thật lớn so với sự thưa thớt của con người ra vào. Trong khi chạy tôi có liếc qua vài người đang ngồi xung quanh một chiếc lò sưởi lớn. Có phải học cũng đang chờ người thân không? Không gian yên tĩnh trong nhà ga đột nhiên bị xao động bởi những tiếng bước chân hớt hả của một thằng bé bị trễ hẹn.                                                


Khó mà nhớ được hôm nay đã bao nhiêu lần tôi chạy lên chạy xuống cầu thang, và băng qua bao nhiêu sân ga. Đến sân ga Ryouke, tôi nhận ra lớp gạch men dưới chân đã thay bằng một đường xi măng trải dài giữa hai hàng cột xi măng quấn đầy dây nhợ, đường ống lên tận trần nhà. Vài ngọn gió rít lên khe khẽ len lỏi dích dắc qua hàng cột như những chàng cầu thủ điêu luyện. Ánh sáng ở đây cũng mờ mờ, ảo ảo cùng với hơi lạnh đã khiến con đường như đang dẫn lối vào một hang động kì bí nào vậy…


Tôi băng qua một dãy dài toàn ki-ốt đóng cửa im lìm mà cứ tưởng như mình bị lạc, may thay không lâu sau đã có vài bóng người đang đợi xe nhìn về phía tôi. Dù đang vã mồ hôi nhưng cái điểm chờ này vẫn toát ra thứ khí quyển lạnh lẽo đến rợn óc, khá là hợp rơ với một không gian tăm tối nơi đây. Nguồn sáng duy nhất đến từ tấm biển quảng cáo của một hiệu mì Soba, cùng với hai chiếc máy bán nước tự động đặt sát mấy dãy ghế.


“Do điều kiện thời tiết xấu, mọi lịch trình của ngày hôm nay tạm thời bị hoãn lại. Chúng tôi thành thật xin lỗi quý khách về sự bất tiện này và mong quý khách kiên nhẫn chờ”, một lần nữa cái thứ âm thanh vô cảm ấy vang vọng khắp sân ga.


Tôi kéo hoodie lên trùm kín đầu rồi nép sát mình vào một cái cột gần đó, vừa để giữ ấm vừa có thể tránh gió. Vẫn phải chờ! Chưa cần đến thứ khí lạnh bốc lên dần dần từ mặt đất, chính sự bức bối lo sợ trong lòng đang tước đi từng độ C trong cơ thể. Cái dạ dày trống không lại tiếp tục réo lên làm người tôi được phen run lên cầm cập. Tôi nhìn qua quán mì Soba, có hai người đàn ông hình như là nhân viên công sở đang húp xùm xụp bát mì nóng hổi. Tôi mang đủ tiền để mua thức ăn, nhưng nghĩ về Akari đang chờ mình cũng đang lạnh và đói bụng như thế làm tôi không muốn ép mình ăn chút nào. Cơ mà, trong cái thời tiết này thì tự cho mình một lon cà phê nóng chắc cũng không có gì quá đáng, tôi bèn đi đến cái máy tự động. Vừa rút ví tiền ra, tôi vô tình làm rơi lá thư…






Trong thực tại tôi đang nghĩ thế này : dù “việc đó” không xảy ra đi nữa cũng chưa chắc tôi có thể đưa lá thư ấy cho Akari. Tôi nhận ra nó vẫn chưa đủ sức mạnh để thay đổi tương lai cùa chúng tôi. Cuộc sống của tôi và Akari đã như hai chuỗi dây xích có chung một vài mắt mà dù muốn dù không cũng chẳng thay đổi được. Rốt cuộc tình cảm của chúng tôi dẫu từng tươi đẹp thế nào, mạnh mẽ ra sao rồi cũng sẽ nhạt phai, chầm chậm mà vĩnh viễn theo dòng chảy của thời gian – dù tôi có có bức thư ấy hay không .


“Việc đó” mà tôi nói đến, chính là lá thư vừa rơi xuống đất lúc bấy giờ đã bị gió cuốn đi, bị ném văng ra khỏi chiều dài sân ga và tan biến trong bầu trời đen kịt bên ngoài chỉ trong một cái chớp mắt. Tôi nhớ mình đã cắn chặt hai hàm răng để kiềm giữ những giọt nước mắt như thế nào, và tôi đã không mua lon cà phê đó.






Chuyến xe đi đến trạm Ryouke của tôi đã dừng hẳn. “Vì tuyết rơi quá dày, chúng tôi buộc lòng phải dừng hoàn toàn lịch trình để tránh bất cứ rủi ro có thể xảy ra…”, thông báo vang lên. “Chúng tôi thành thật xin lỗi quý khách về sự bất tiện này, nhưng chúng tôi hiện vẫn chưa nhận được thời gian trì hoãn cụ thể của từng chuyến xe”. Cảnh vật bên ngoài chỉ còn phủ hai màu trắng đen, và thứ âm thanh duy nhất là tiếng gào rú của vô số những cơn gió làm mấy khung cửa kính va vào nhau lộp cộp. Họ nghĩ cái gì mà cho xe dừng ở nơi khỉ ho cò gáy này? Tôi nhìn vào đồng hồ - như cả chục lần trước đó – và nhận ra đã hai tiếng trôi qua từ giờ hẹn. Tôi gỡ chiếc đồng hồ ra và quẳng lên cái bệ nhỏ gần cửa sổ. Có nhìn bao nhiêu lần cũng vô ích, tôi chỉ biết cầu nguyện cho chiếc xe có thể chuyển động trở lại.


“Takaki-kun có khỏe không? Hôm nay tớ phải dậy sớm lên CLB nên tớ viết lá thư này trên xe đấy!”, Akari đã một lần viết như thế…


Mỗi khi xem thư của Akari tôi hay tưởng tượng cảnh cô ấy đã viết nó ra sao. Cũng như mọi lần khác lúc nào tôi cũng thấy cô bé Akari ngồi một mình, luôn luôn cô độc như thế. Vâng, “cô độc” có thể là từ ngữ hợp nhất dành cho chúng tôi. Tôi đã có bạn ở trường, nhiều là đằng khác. Nhưng chính vào lúc này đây, tôi, cũng ngồi một mình trên xe nhận ra rằng đây mới chính là con người thật của mình – một Toono Takaki hoàn-toàn-cô-độc. Giờ đây hơi ấm của máy sưởi không còn xua được cái lạnh lẽo đã hòa vào nỗi cô đơn của con người và sự trầm mặc của thiên nhiên. Tôi không còn muốn diễn tả cảm giác của mình lúc này nữa, đây chắc chắn là những thời khắc nghiệt ngã nhất trong cuộc đời tôi từng phải nếm trải.


Thời gian cứ như được tính bằng thiên nhiên kỷ trôi qua và tôi chỉ biết ngồi giấu mặt trong chiếc hoodie mà thấy cái lưng như muốn còng rụp xuống. Hai hàm răng đau buốt của tôi đã nghiến chặt nãy giờ để ngăn lại những giọt nước cứ chực trào ra nơi khóe mắt.


Tại sao chỉ mình tôi phải chịu đựng sự giày vò khủng khiếp này? Nghĩ đến việc Akari vẫn còn chờ ở điểm hẹn, trong thời tiết ngày càng lạnh lẽo này khiến tôi phát điên. Tôi không muốn, không dám nghĩ tới cảm nhận của cô ấy. Giờ đây tôi chỉ mong Akari đừng đợi thêm một giây nào nữa...


Akari à, nói với tớ rằng cậu đã… đã về rồi đi!''

Nhưng làm sao có thể phủ nhận một sự thật là Akari sẽ vẫn chờ ở đó? Không phải là ước đoán, không phải là hy vọng, đó là một điều hiển nhiên mà tôi chỉ đơn thuần là “biết” như vậy. Cái sự hiển nhiên ấy không mang lại hạnh phúc, chỉ có một nỗi tuyệt vọng đang kéo dài vô tận như những hạt tuyết rơi rụng ngoài kia…

Ad blocker interference detected!


Wikia is a free-to-use site that makes money from advertising. We have a modified experience for viewers using ad blockers

Wikia is not accessible if you’ve made further modifications. Remove the custom ad blocker rule(s) and the page will load as expected.